Top 3 Những Phát Minh Tuyệt Vời Của Con Người: Tia X, Máy Quay Phim, Đèn Pin

1. Tia X đã ra đời như thế nào?

Năm 1895, nhà vật lí người Đức, Wilhelm Conrad Röntgen đã vô tình phát hiện ra tia X. Ông đang làm thí nghiệm với ống tia âm cực thì nhận thấy rằng các tia phát ra từ ống đó có thể xuyên qua và chiếu tới các lớp vật chất sâu hơn so với suy nghĩ của ông. Sau khi biết được khả năng của thiết bị này, ông đã cải tiến kỹ thuật để có thể giới thiệu nó ra công chúng.

Röntgen đã làm một thí nghiệm là chiếu tia X qua bàn tay vợ ông và nhìn thấy hình ảnh xương nằm dưới da. Điều này làm Röntgen sửng sốt và ông bắt đầu giới thiệu phát hiện của mình với cộng đồng khoa học. Röntgen đặt tên cho phát hiện đó là “bức xạ X”. X có nghĩa là không biết. Phát hiện của Röntgen ngay lập tức làm biến đổi ngành y tế. Trong vòng một năm, phòng chụp X-quang đầu tiên đã được thành lập tại một bệnh viện Glasgow và vị trưởng phòng của phòng chụp này đã đưa ra các bức ảnh đầu tiên chụp sỏi thận và đồng xu mắc ở cổ họng một đứa bé.

Röntgen được xem là cha đẻ của máy chụp X-quang. Tuy nhiên, người có đóng góp lớn cho việc cải tiến quy trình chụp X-quang là nhà phát minh W. D. Coolidge khi ông phát minh ra ống tia X (X-ray tube) vào năm 1913. Nhờ có phát minh này mà công nghệ chụp X-quang vẫn giữ được tính hiệu quả cho đến tận ngày nay.

2. Ai là cha đẻ máy quay phim?

Hầu hết chúng ta biết ơn việc phát minh ra máy quay phim bởi nhờ nó mới có những bộ phim và chương trình truyền hình mà chúng ta vô cùng yêu thích. William Kennedy Laurie Dickson thường được công nhận là người đã phát minh ra chiếc máy quay phim đầu tiên vào năm 1891. Ý tưởng của ông là đỉnh cao của một số lí thuyết và bước tiến thời bấy giờ trong việc xây dựng một thiết bị giống như máy ảnh nhưng có khả năng thu chuyển động.

Phiên bản ban đầu của cỗ máy này là chiếc đèn lồng ma thuật (magic lantern) - một loại máy chiếu slide. Các hình ảnh sẽ chạy ngang qua một ống kính được chiếu sáng bởi một ngọn đèn dầu. Tuy nhiên, phải mất một thời gian dài thì cỗ máy chiếu thô sơ này mới được cải tiến để có thể mô phỏng chuyển động. Hai thế kỉ sau khi đèn lồng ma thuật ra đời, Simon Ritter von Stampfer đã phát minh ra đĩa Stampfer (Stroboscope) vào năm 1832. Thiết bị này tạo ra ảo ảnh chuyển động bằng cách hiển thị một chuỗi các hình vẽ hoặc hình ảnh cho thấy các giai đoạn tiến triển của chuyển động đó.

Năm 1891, William Kennedy Laurie Dickson bắt đầu làm thí nghiệm với phim celluloid của Eastman và nhanh chóng nhận ra rằng các hình ảnh chuyển động dựa trên ánh sáng đi qua một cái khung. Ông cắt các tấm phim thành nhiều dải và đục lỗ ở phần rìa của chúng. Dickson sử dụng một thiết bị dừng chuyển động để đưa các hình ảnh lên những dải phim celluloid. Từ âm bản, ông tạo ra một bức ảnh in dương bản, đặt nó vào một vật có hình dạng giống như cái hộp được đẩy đi bởi một động cơ chạy bằng pin, rồi để các dải phim chạy thành vòng tròn giữa một chiếc đèn điện và màn trập.

Đây chính là quá trình hình thành của cái được công nhận là bộ phim đầu tiên.

3. Đèn pin đã có từ khi nào?

Cuối thế kỉ 19, sự ra đời của pin khô đã khiến cho các ý tưởng về thiết bị chiếu sáng cầm tay trở nên khả thi. Conrad Hubert, một người nhập cư Nga sống New York, đã thành lập một Công ty bán các thiết bị chạy bằng pin.

Bản thân Hubert là một nhà phát minh, nhưng David Misell, một nhân viên người Anh của ông, mới là người phát minh ra chiếc đèn pin đầu tiên vào năm 1898. Ông được cấp bằng sáng chế cho phát minh này vào năm tiếp theo. Thiết bị có tên thương hiệu là “Đèn pin Eveready". Sau đó, Hubert cũng đổi tên công ty của mình thành Công ty Eveready.


Call Now
Call Now