Người Tiền Sử Ra Chế Tạo Ra Da Thuộc, Keo Và Giấy Cói Như Thế Nào?

1. Người tiền sử sử dụng da thuộc để làm gì?

Da thuộc được xem như là một trong những phát hiện quan trọng nhất của con người. Trong các hầm mộ Ai Cập có niên đại từ 5.000 năm trước, người ta đã tìm thấy các đồ vật làm bằng da thuộc như dép, quần áo, găng tay, xô, vải liệm, chai lọ và thiết bị quân sự.

Người tiền sử dụng da sống để bảo vệ bản thân khỏi những tác động từ thiên nhiên như gió, mưa, hơi nóng và khí lạnh. Nhưng vấn đề của da sống là nó sẽ hư thối khi trời nóng và cứng lại khi trời lạnh.

Việc thuộc da bắt nguồn từ nhược điểm đó. Người tiền sử chắc hẳn đã phát hiện ra rằng khi phơi khô da sống dưới ánh nắng mặt trời, nó sẽ mềm và bền hơn. Xát muối, hun khói và bôi mỡ là một số phương pháp phổ biến để làm da thuộc.

Người Hi Lạp cổ đại có đóng góp lớn trong việc phát triển kĩ thuật thuộc da. Họ Sử dụng nước và vỏ cây để bảo quản da thuộc.

Người Anh bắt đầu sản xuất da thuộc khi biết đến loại chất liệu này qua người La Mã. Người ta cho rằng các tu sĩ thời đó là những chuyên gia trong việc làm giấy da để viết chữ.

Cuối cùng, thuộc da trở thành một ngành kinh doanh phổ biến và hầu hết mọi nơi ở Anh đều có xưởng thuộc da. Một số nơi vẫn còn các xưởng thuộc da từ thời Trung Cổ là phố Tanner, phố Baker và hẻm Leather ở London.

2. Người tiền sử đã tạo ra keo như thế nào?

Hãy thử tưởng tượng xem cuộc sống của bạn sẽ ra sao nếu không có bất cứ một loại chất dính nào? Chúng ta gần như không thể sống một cuộc sống như thế. Trong khi những loại keo thời nay được làm từ các chất hóa học thìthời điểm 4.000 năm TCN, chúng được làm bằng nhựa cây. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra bằng chứng cho thấy người Hi Lạp cổ đại đã sử dụng chất dính để làm đồ mộc. Họ tạo ra chất dính từ lòng trắng trứng, máu động vật, xương, sữa, phô-mai, dầu thực vật và các loại ngũ cốc khác nhau. Trong khi đi người La Mã lại sử dụng nhựa thuốc lá và sáp ong để làm keo.

Phát hiện mang tính đột phá trong lĩnh vực này là “Keo siêu dính”. Năm 1942, tiến sĩ Harry Coover đã bỏ đi một loại chất được gọi là cyanogcrylate vì thấy rằng nó quá dính và chẳng giúp gì cho nghiên cứu của ông. Nhưng chỉ chín năm sau, trong một nghiên cứu khác, ông đã nhận ra cyanogcrylate thực sự là một sản phẩm rất hữu ích. Sau đó chất này được nghiên cứu phát triển thêm và bán ra thị trường vào năm 1958 với tên gọi “Keo siêu dính”.

3. Con người đã bắt đầu sử dụng giấy từ khi nào?

Giấy cói có lẽ là một trong những phát minh quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại. Người Ai Cập cổ đại chính là những người đầu tiên cảm thấy cần phải có một loại vật liệu nhẹ hơn để viết sau khi họ sáng tạo ra ngôn ngữ viết. Họ bắt đầu sử dụng ruột của cây cói để làm giấy cói từ 4.000 năm TCN.

Việc sử dụng cói để làm giấy kéo dài đến thế kỉ 11. Đối với các tài liệu dài, những tờ giấy cói được cuộn tròn lại. Mỗi cuộn giấy được tạo thành từ khoảng 20 tờ giấy cói trở lên dán nối tiếp nhau. Trên thực tế, người ta hầu như không bán những tờ giấy lẻ. Cuối cùng, giấy cói được dùng để làm sạch và chủ yếu là những cuốn sách Kinh Thánh chép tay. Giấy cói cũng có các mức chất lượng khác nhau. Những lo giấy cói dày được dùng cho mục đích gói đồ, trong khi những tờ giấy cói tốt được dùng để viết các văn bản tôn giáo hoặc văn học.